Tới đây thì người đọc đã có trong tay mười mấy món: ba món rau, ba món đậu hũ, hai món nấm, một nồi đậu ninh, bốn món nước, một đĩa nộm và một mâm cuốn. Đó là nhiều hơn số món mà phần lớn gia đình thực sự nấu trong một tháng.
Việc còn lại không phải là học thêm món mà là xếp số món ấy thành một vòng quay để tối nào cũng có sẵn câu trả lời. Bài này chỉ cách xếp, cách gom việc nấu dồn vào cuối tuần, và cách chỉnh khung cho hợp nhịp sống của mình.
Chia món theo kiểu, không theo tên
Nhóm một là bữa có món kho. Đậu hũ kho, nấm kho.
Nhóm hai là bữa có món xào. Rau xào, nấm xào rau củ.
Nhóm ba là bữa món nước. Cháo, miến, bún, mì.
Nhóm bốn là bữa có món chiên. Đậu hũ chiên sả.
Nhóm năm là bữa món trộn hoặc cuốn. Nộm, gỏi cuốn.
Nhóm sáu là bữa cơm đĩa hoặc cơm trộn. Cơm chiên, cơm với đậu ninh.
Nhóm bảy là bữa nhanh nhất. Bánh mì, mì gói nâng cấp, cơm với muối vừng.
Mỗi bữa vẫn phải có một nguồn đạm. Quy tắc duy nhất không được bỏ.
Mỗi bữa nên có một món rau. Luộc hay canh đều được.
Bảy nhóm này xếp vào mười bốn ô của hai tuần. Mỗi nhóm hai lần.
Ghi bảy nhóm ra giấy chứ đừng ghi tên món. Linh hoạt hơn khi đi chợ.
Món cụ thể thì tùy chợ hôm đó có gì. Đây là điểm quan trọng nhất.
Sau vài tuần là nhớ khung mà không cần nhìn. Đích của việc này.
Khung theo kiểu món chịu được mọi thay đổi của chợ và của lịch sinh hoạt, còn danh sách tên món thì gãy ngay khi chợ hết một thứ.
Gom việc vào cuối tuần
Ngâm một mẻ đậu tối thứ bảy. Sáng chủ nhật ninh.
Ninh đậu rồi chia hộp. Ngăn mát và ngăn đá.
Nấu một nồi nước dùng rau củ. Chia hộp hoặc khay đá.
Kho một món để dành. Ăn hai bữa đầu tuần.
Rang một hũ đậu phộng và một hũ mè. Dùng cả tháng.
Làm một hũ muối vừng. Cứu những bữa lười.
Băm sẵn sả và gừng, chia viên cấp đông. Tiết kiệm nhiều phút mỗi tối.
Rửa rau cho ba ngày đầu tuần. Để ráo rồi cất.
Thắng một mẻ nước màu. Để hũ ngăn mát.
Tổng cộng chừng chín mươi phút. Không nên nhiều hơn.
Không nấu sẵn hết thức ăn cả tuần. Hâm tới ngày thứ tư là không nên.
Ghi ngày lên mọi hộp. Để biết dùng trước cái nào.
Nhờ người nhà cùng làm. Nhanh gấp đôi.
Chín mươi phút cuối tuần đổi lấy năm buổi tối nhẹ nhõm là cuộc trao đổi có lợi nhất trong toàn bộ việc bếp núc, và đây cũng là thói quen phân biệt người nấu đều với người nấu từng đợt.
Một tuần mẫu
Thứ hai là bữa có món kho đã nấu sẵn. Thêm rau luộc và canh.
Thứ ba là bữa xào. Nấm xào rau củ với cơm.
Thứ tư là bữa món nước. Miến nấm hoặc cháo.
Thứ năm là bữa chiên. Đậu hũ chiên sả, rau luộc, canh.
Thứ sáu là bữa nhanh nhất. Bánh mì hoặc mì nâng cấp.
Thứ bảy là bữa trộn hoặc cuốn. Nộm hoặc gỏi cuốn.
Chủ nhật là bữa nấu kỹ hơn. Món mới hoặc món đãi khách.
Tuần thứ hai đảo thứ tự. Để không thành nếp cứng.
Đổi loại rau mỗi bữa. Bữa ăn khác hẳn.
Đổi nguồn đạm giữa đậu hũ, nấm và đậu. Cùng cách nấu.
Chừa chỗ cho ngày ăn ngoài. Đừng lên kế hoạch kín.
Chừa một bữa dự phòng. Cho hôm không muốn nấu.
Điều chỉnh theo lịch thật của mình. Ai bận thứ tư thì để bữa nhanh vào đó.
Một tuần mẫu chỉ là gợi ý để bắt đầu, và sau ba tuần thì mỗi nhà sẽ có tuần mẫu của riêng mình được viết lại theo lịch làm việc thật chứ không theo bài viết nào.
Điều chỉnh cho hợp mình
Xem lại sau ba tuần. Lúc đó mới có số liệu thật.
Bỏ ô nào hay bị bỏ qua. Thay bằng bữa nhanh.
Thêm ô nhanh nếu tuần nào cũng có hai ngày bận. Thực tế hơn.
Đổi khung theo mùa. Mùa nóng nhiều món trộn, mùa lạnh nhiều món kho.
Đổi khung khi lịch làm việc đổi. Chuyển ca, đổi việc.
Ghi lại món nào cả nhà thích. Cho vào vòng quay thường xuyên hơn.
Bỏ hẳn món không ai thích. Không cần cố.
Thêm một món mới mỗi tuần. Một thôi.
Không đổi cả khung cùng lúc. Lại quay về cảnh phải nghĩ mỗi tối.
Cho phép có tuần lặp y hệt tuần trước. Tuần bận thì lặp lại là hợp lý.
Không tự trách khi có tuần ăn ngoài nhiều. Tuần sau quay lại.
Không so khung của mình với nhà khác. Số người và lịch khác nhau.
Giữ khung đơn giản. Phức tạp thì không ai theo.
Một cái khung tốt là cái khung mà ba tháng sau mình vẫn còn dùng, và tiêu chuẩn đó thực tế hơn nhiều so với chuyện nó có đủ đa dạng trên giấy hay không.
Khi thấy chán
Đổi loại rau trước khi đổi món. Cách rẻ nhất.
Đổi gia vị nền. Cùng miếng đậu hũ, kho tiêu khác kho sả.
Đổi cách cắt. Thái lát, thái khối, xé sợi cho ba cảm giác.
Thêm một tầng kết cấu. Rắc đậu phộng hoặc tàu hũ ky chiên.
Thêm một món đồ chua. Dưa leo, dưa cải.
Học một món mới trong tuần. Một thôi.
Ăn ở quán chay ngon một lần trong tháng. Để lấy cảm hứng.
Mời bạn bè ăn cơm nhà. Nấu tử tế hơn một cách tự nhiên.
Nấu món của vùng khác. Mở ra một bộ gia vị mới.
Nhờ người nhà chọn món. Đổi người quyết thì đổi thực đơn.
Đi chợ ở nơi khác. Thấy nguyên liệu khác.
Nghỉ một tuần không lên khung. Ăn tùy hứng rồi quay lại.
Không ép mình phải nấu mỗi ngày. Ba bốn ngày một tuần đã tốt.
Chán là chuyện xảy ra với mọi người nấu, và nó chữa được bằng những thay đổi rất nhỏ chứ không cần học lại từ đầu hay đổi cả cách ăn.
Nhìn lại sau ba tháng
Đếm xem mình nấu thạo bao nhiêu món. Thường nhiều hơn mình tưởng.
Xem tối có còn phải nghĩ ăn gì không. Thước đo quan trọng nhất.
Xem một bữa mất bao lâu. Thường đã giảm một nửa.
Xem tủ lạnh có còn đồ hỏng không. Dấu hiệu đi chợ đã đúng.
Xem tiền chợ mỗi tháng. So với ba tháng trước.
Xem mình còn thấy ngại vào bếp không. Câu hỏi thành thật nhất.
Ghi lại mười món mình nấu nhiều nhất. Đó là bếp thật của mình.
Ghi lại món nào muốn học tiếp. Danh sách cho ba tháng tới.
Không so với người nấu lâu năm. Họ đã làm nghìn lần.
Không đặt mục tiêu nấu như nhà hàng. Bữa cơm nhà có tiêu chuẩn riêng.
Ghi nhận mình đã đi được một quãng. Ba tháng trước chưa nấu được gì.
Cho phép mình tự hào một chút. Đây là kỹ năng dùng cả đời.
Tiếp tục nấu đều hơn là nấu giỏi. Đều mới là thứ giữ được.
Người nào sau ba tháng vẫn còn đang nấu, dù chỉ ba bốn bữa một tuần và chỉ với mười món quen, thì đã thành công hơn hẳn người học hai mươi công thức rồi bỏ bếp, và đó là toàn bộ điều mà những bài trong danh mục này muốn nói.