Ba tháng trước, người đọc loạt bài này có thể chưa nấu nổi một bữa cơm hoàn chỉnh. Nếu đã đi theo từ đầu và chịu vào bếp đều đặn thì bây giờ trong tay đã có mười mấy món, một cái bếp sắp gọn, một khung thực đơn, và quan trọng hơn cả là thói quen đứng bếp.
Bài này khép lại loạt bài. Nó nhìn lại quãng đường đó, chỉ cách đo cho đúng thay vì đo bằng những thứ không nói lên gì, và nói về hướng đi tiếp cho ai muốn đi xa hơn cũng như cho ai thấy chừng này là đủ.
Nhìn lại ba tháng
Đếm số món mình nấu thuộc. Thường nhiều hơn mình tưởng.
Nhớ lại bữa cơm đầu tiên mình nấu. So với bữa gần nhất.
Xem tối có còn phải nghĩ ăn gì không. Câu hỏi quan trọng nhất.
Xem một bữa mất bao lâu. Thường đã giảm một nửa.
Xem mình còn phải mở công thức không. Với món quen.
Xem tủ lạnh có còn đồ hỏng không. Dấu hiệu đi chợ đã đúng.
Xem bếp có gọn sau mỗi bữa không. Thói quen dọn đã thành nếp chưa.
Xem mình còn thấy ngại vào bếp không. Câu hỏi thành thật nhất.
Đếm số lần hỏng trong tháng vừa rồi. So với tháng đầu.
Ghi ra mười món mình nấu nhiều nhất. Đó là bếp thật của mình.
Ghi ra ba việc mình làm tốt nhất. Không chỉ nhìn chỗ thiếu.
Ghi ra một việc muốn làm tốt hơn. Một thôi.
Không so với người nấu lâu năm. Họ đã làm nghìn lần.
Ba tháng là quãng đủ để thấy rõ mình đã đi được bao xa, và với hầu hết người thì khoảng cách đó lớn hơn nhiều so với cảm giác của họ trong lúc đang đi.
Đo bằng thứ gì cho đúng
Đo bằng số bữa mình tự nấu trong tuần. Thước đo thật nhất.
Đo bằng việc có phải nghĩ ăn gì không. Nếp đã thành hay chưa.
Đo bằng thời gian một bữa. Nhanh dần là tiến bộ.
Đo bằng lượng đồ ăn phải bỏ. Ít dần là đi chợ đã đúng.
Đo bằng việc người nhà có ăn hết không. Lời khen thật nhất.
Đo bằng việc mình có còn thấy nấu là gánh nặng không. Quan trọng hơn mọi con số.
Không đo bằng số công thức đã đọc. Đọc không thay được nấu.
Không đo bằng số dụng cụ đã mua. Càng không.
Không đo bằng độ cầu kỳ của món. Bữa cơm ngày thường mới là nền.
Không đo bằng ảnh đẹp. Phần lớn ảnh đã chỉnh.
Không đo bằng lời khen của người khác. Họ có thể chỉ nói cho vui.
Không đo bằng việc có giống nhà hàng không. Hai chuyện khác nhau.
Không so với chính mình tưởng tượng. So với chính mình ba tháng trước.
Ai nấu được ba bốn bữa một tuần bằng mười món quen và thấy việc đó nhẹ nhàng thì đã đạt đúng cái đích mà loạt bài này hướng tới, và không cần thêm gì nữa cả.
Những gì đã có trong tay
Một cái bếp sắp theo khu. Đồ để đúng chỗ.
Một bộ dụng cụ tối thiểu. Dao, thớt, nồi, chảo, kéo.
Một kệ đồ khô. Nấu được cả khi tủ lạnh trống.
Mười mấy món nấu thuộc. Đủ xoay vòng hai tuần.
Một khung thực đơn theo kiểu món. Không phải nghĩ mỗi tối.
Thói quen đi chợ có danh sách. Ít lãng phí.
Thói quen nấu dồn cuối tuần. Năm buổi tối nhẹ nhõm.
Thói quen dọn trong lúc nấu. Bếp gọn sau mỗi bữa.
Biết đọc lửa và đọc dấu hiệu. Không phụ thuộc đồng hồ.
Biết nêm bằng cách nếm. Không phụ thuộc con số.
Biết chữa khi món hỏng. Bớt sợ.
Biết ứng biến khi thiếu nguyên liệu. Nhìn tủ là biết nấu gì.
Một sổ tay công thức của riêng mình. Đã chỉnh theo bếp nhà.
Nhìn lại danh sách này thì thấy ba tháng đã xây được một cái nền khá đầy đủ, và cái nền đó là thứ dùng được suốt đời chứ không phải một đợt hứng thú nhất thời.
Nếu thấy chừng này là đủ
Đó là một lựa chọn hoàn toàn hợp lý. Không cần đi xa hơn.
Mười món nấu thuộc là đủ cho một đời sống bình thường. Thật sự là vậy.
Việc cần làm còn lại chỉ là nấu đều. Giữ tay.
Ba bốn bữa một tuần là đủ để không quên. Không cần nấu mỗi ngày.
Đổi khung thực đơn theo mùa. Bếp tự làm mới.
Thỉnh thoảng thêm một món mới. Khi thấy chán.
Giữ kệ đồ khô đầy. Luôn nấu được.
Giữ thói quen dọn. Thứ giữ cho việc nấu tiếp tục.
Đi khám sức khoẻ định kỳ. Không liên quan tới bếp nhưng vẫn nên.
Không đặt áp lực phải giỏi hơn. Mục đích là bữa cơm.
Không so với người nấu nhiều hơn. Mỗi người một nhịp sống.
Tận hưởng việc mình đã tự lo được bữa ăn. Đó là một chuyện đáng kể.
Không bỏ bếp khi thấy mình đã ổn. Bỏ vài tháng là tay chậm lại.
Dừng ở mức nấu được bữa cơm nhà là một cái đích trọn vẹn chứ không phải một chặng dở dang, và rất nhiều người nấu ngon cả đời cũng chỉ ở đúng mức đó.
Nếu muốn đi xa hơn
Học kỹ thuật thay vì học thêm món. Nước dùng, thắng đường, làm bột.
Học món của vùng khác. Mở ra bộ gia vị mới.
Học làm bánh. Nhánh riêng, cần cân và cần chính xác.
Học muối dưa và làm đồ chua. Giữ mùa lại lâu hơn.
Học làm sữa hạt và đậu hũ. Tự làm từ đầu.
Học nấu cho đông người. Kỹ năng tổ chức.
Học bày biện nếu hay đãi khách. Không bắt buộc.
Đọc về nguyên liệu địa phương. Chợ là lớp học tốt.
Nấu cùng người nấu giỏi hơn. Học nhanh nhất.
Dạy người khác một món. Dạy là cách ôn tốt nhất.
Ghi lại công thức của mình cho tử tế. Để truyền lại.
Không học vì thấy người khác học. Học thứ mình sẽ dùng.
Không biến việc nấu thành áp lực phải giỏi. Mất vui là mất tất cả.
Đi xa hơn là lựa chọn chứ không phải nghĩa vụ, và cái hay là nền đã xây trong ba tháng đầu đủ chắc để đi bất cứ hướng nào mình muốn sau này.
Lời cuối
Nấu ăn là kỹ năng dùng cả đời. Ít kỹ năng nào có tuổi thọ như vậy.
Nó tiết kiệm tiền thật. Một khoản không nhỏ mỗi tháng.
Nó cho mình quyết định mình ăn gì. Tự chủ.
Nó là cách chăm người mình thương. Rất cụ thể.
Nó giữ người ta ngồi lại với nhau. Bữa cơm chung.
Nó không đòi năng khiếu. Chỉ đòi lặp lại.
Nó không đòi bếp đẹp. Nồi chảo cũ vẫn nấu ngon.
Nó không đòi nhiều thời gian. Hai mươi phút là một bữa.
Ai cũng bắt đầu từ chỗ không biết gì. Không có ngoại lệ.
Ai cũng làm hỏng vài chục nồi. Cũng không có ngoại lệ.
Điều duy nhất phân biệt là có tiếp tục hay không. Thật sự chỉ có vậy.
Không cần nấu ngon, chỉ cần nấu đều. Ngon sẽ tự tới.
Giữ niềm vui trong bếp. Đó là thứ giữ được lâu nhất.
Người đọc hết loạt bài này rồi vẫn còn đứng bếp sau một năm sẽ không cần đọc thêm bài hướng dẫn nào nữa, vì tới lúc đó cái bếp đã thành của họ và họ mới là người biết rõ nhất nó cần gì.