Hỏi người mới vì sao ngại nấu thì câu trả lời hay gặp nhất không phải là nấu khó mà là rửa mệt. Nấu bốn mươi phút rồi nhìn vào bồn thấy hai cái nồi, một cái chảo, thớt, dao, rổ và cả chục cái bát thì lần sau chỉ muốn đặt đồ ăn về.
Người nấu lâu năm không rửa nhiều hơn, họ chỉ rửa vào lúc khác: trong lúc chờ nước sôi, trong lúc món đang kho. Tới khi dọn mâm thì bếp đã gần như sạch. Bài này chỉ cách làm điều đó, và cách giảm bớt số dụng cụ phải dùng ngay từ đầu.
Tận dụng những khoảng chờ
Chờ nước sôi là khoảng dài nhất. Rửa được khá nhiều.
Chờ cơm chín là khoảng dài thứ hai. Hai mươi phút.
Chờ món kho rút nước. Mười lăm phút.
Chờ đậu ninh. Cả tiếng.
Rửa dụng cụ sơ chế ngay sau khi dùng xong. Thớt, dao, rổ.
Rửa tô đựng nguyên liệu khi đã trút hết vào nồi. Ngay lúc đó.
Lau bàn bếp trong lúc chờ. Vết bẩn mới lau rất nhanh.
Cất gia vị về chỗ ngay sau khi dùng. Bàn gọn dần.
Gom rác vỏ vào một tô rồi đổ một lần. Đỡ chạy tới lui.
Không đứng nhìn nồi khi không cần canh. Lãng phí khoảng chờ.
Nhưng vẫn ở trong bếp. Vừa rửa vừa để mắt tới nồi.
Không bật chương trình dài rồi ngồi xem. Khoảng chờ trôi mất.
Đặt hẹn giờ rồi yên tâm làm việc khác trong bếp. Không sợ quên.
Một bữa cơm bốn món có chừng ba mươi phút chờ cộng lại, và chừng đó là quá đủ để rửa hết mọi thứ đã dùng trong lúc nấu.
Thứ tự rửa cho nhanh
Rửa thứ ít bẩn trước. Ly, tô, rổ.
Rửa thứ dính dầu sau. Chảo và nồi.
Ngâm nồi dính ngay khi vừa trút đồ ra. Nước ấm với chút nước rửa chén.
Không để nồi dính khô lại. Khô rồi thì cọ rất lâu.
Tráng sơ bát đĩa ngay sau bữa. Rồi rửa sau cũng được.
Gom chung một mẻ rửa. Tiết kiệm nước hơn rửa lẻ.
Úp lên giá cho ráo thay vì lau khô. Nhanh hơn.
Lau khô dao và đồ kim loại. Tránh gỉ.
Rửa dao riêng ngay sau khi dùng. Không để trong chậu.
Rửa thớt bằng nước nóng. Nhất là thớt vừa cắt đồ có mùi.
Dựng thớt cho khô hẳn. Không úp sát mặt bàn.
Cọ bồn rửa sau khi rửa xong. Ba mươi giây.
Vắt và treo giẻ rửa. Giẻ ẩm là ổ vi khuẩn.
Một thứ tự cố định làm việc rửa nhanh hơn chừng một phần ba, và sau vài tuần thì tay tự làm theo thứ tự đó mà không cần nghĩ.
Dùng ít dụng cụ hơn
Một thớt cho rau củ là đủ với bếp chay. Trừ khi nhà có người ăn mặn.
Trút nguyên liệu thẳng từ thớt vào chảo. Không cần tô trung gian.
Dùng chính cái nồi luộc rau để nấu canh. Khỏi rửa thêm nồi.
Dùng chảo đang xào để làm luôn món sốt. Sau khi trút món trước ra.
Đong bằng muỗng ăn thay vì muỗng đong riêng. Ít đồ phải rửa.
Pha nước chấm trong chính chén sẽ dọn ra bàn. Khỏi rửa tô pha.
Dùng chung một muỗng nếm và rửa giữa các lần. Hoặc dùng muỗng nhỏ riêng.
Không lấy tô mới cho mỗi nguyên liệu. Xếp chung trên thớt hoặc trên một khay.
Dùng khay thay vì nhiều tô nhỏ. Bày nguyên liệu lên khay.
Ăn trong bát thay vì bát và đĩa. Với bữa một mình.
Nấu món một chảo hoặc một nồi. Ít đồ nhất.
Không dùng dụng cụ chỉ để cho đúng bài. Nếu đũa làm được thì dùng đũa.
Đếm số đồ mình đã dùng sau một bữa. Thường bớt được một nửa.
Giảm số dụng cụ là cách giảm việc rửa hiệu quả hơn mọi mẹo rửa nhanh, vì thứ không dùng thì không phải rửa.
Sau bữa ăn
Dọn bàn ngay sau khi ăn xong. Đừng ngồi lâu rồi mới dọn.
Gạt thức ăn thừa vào một hộp trước. Rồi mới xếp bát.
Tráng sơ bát đĩa. Rồi xếp vào bồn hoặc rửa luôn.
Rửa ngay sau bữa là tốt nhất. Chưa kịp khô dính.
Nếu mệt thì ít nhất tráng sơ và ngâm. Sáng mai rửa nhanh hơn.
Không để bát bẩn qua đêm. Sáng nhìn thấy là ngại vào bếp.
Chia việc trong nhà. Người nấu thì người khác rửa.
Rửa cùng nhau thì nhanh và vui hơn. Một người rửa một người tráng.
Lau bàn ăn và bàn bếp. Bước cuối.
Cất thức ăn thừa vào tủ khi đã nguội bớt. Ghi ngày.
Đổ rác trước khi đi ngủ. Nhất là rác đồ tươi.
Nhìn lại bếp một lượt. Tắt bếp, tắt điện, đóng van gas.
Để bếp sạch cho sáng mai. Món quà cho chính mình.
Mười phút dọn sau bữa quyết định việc ngày mai mình có muốn vào bếp hay không, và đó là lý do nó đáng làm dù đang mệt.
Khi đã để dồn lại
Ngâm tất cả trong nước ấm trước. Mười phút.
Bắt đầu từ thứ dễ. Ly và bát.
Làm từng mẻ nhỏ. Đừng nhìn cả đống.
Đặt hẹn mười lăm phút. Làm được tới đâu hay tới đó.
Bật nhạc. Đỡ thấy nặng nề.
Nhờ người nhà làm cùng. Nhanh gấp đôi.
Cọ nồi cháy bằng cách ngâm, không cọ mạnh. Đã nói ở bài trước.
Vứt bỏ thức ăn đã để quá lâu. Đừng cố cứu.
Lau bàn và bồn sau khi xong. Cho trọn.
Không tự trách. Ai cũng có lúc để dồn.
Tìm nguyên nhân. Thường là mệt hoặc là không có thói quen dọn khi nấu.
Bắt đầu lại từ bữa sau. Dọn trong lúc nấu.
Không để dồn thành nhiều ngày. Càng dồn càng ngại.
Một lần để dồn không phải chuyện lớn, nhưng nếu tuần nào cũng vậy thì vấn đề nằm ở thói quen dọn trong lúc nấu chứ không nằm ở việc lười rửa.
Biến thành thói quen
Gắn việc rửa vào khoảng chờ. Không đặt thành việc riêng.
Để nước rửa chén và giẻ ở chỗ với tay được. Giảm ma sát.
Để giá úp gần bồn. Không phải đi xa.
Dọn bàn bếp trước khi bắt đầu nấu. Bắt đầu từ chỗ sạch.
Lau bàn sau mỗi công đoạn. Vết mới lau rất nhanh.
Không để bếp bừa qua đêm. Quy tắc duy nhất cần giữ.
Làm đủ mười phút rồi nghỉ. Không cần hoàn hảo.
Ghi nhận khi bếp gọn. Cảm giác dễ chịu là phần thưởng.
Không đặt tiêu chuẩn quá cao. Sạch vừa đủ là được.
Chia việc rõ ràng nếu nhà đông. Tránh ấm ức.
Không cằn nhằn người khác về bếp. Nói một lần rồi thôi.
Sau vài tuần là thành phản xạ. Tay tự làm.
Không so bếp nhà mình với ảnh trên mạng. Gọn là đủ, không cần đẹp.
Một cái bếp gọn làm người ta muốn nấu, và một cái bếp bừa làm người ta muốn đặt đồ ăn, nên thói quen dọn chính là thứ giữ cho việc nấu tiếp tục chứ không phải chuyện sạch sẽ đơn thuần.