Hai người cùng nấu một món trong hai cái bếp khác nhau có thể chênh nhau mười phút, và phần lớn chênh lệch đó không đến từ tay nghề mà đến từ việc đồ để ở đâu. Bếp sắp lộn xộn thì người nấu đi tới đi lui, mở hết ngăn này tới ngăn khác, và mỗi lần như vậy mất vài giây.
Cách sắp đúng rất đơn giản: chia bếp thành ba khu và để mỗi thứ ở khu dùng tới nó. Bài này nói cách chia ba khu đó, cách bố trí trong từng khu, và cách xoay xở khi bếp chật hoặc là bếp nhà thuê không sửa được gì.
Ba khu của một cái bếp
Khu rửa là chỗ có bồn. Rửa rau và rửa bát.
Khu sơ chế là mặt bàn cạnh bồn. Thái và trộn.
Khu nấu là chỗ đặt bếp. Xào, kho, luộc.
Ba khu nên nối tiếp nhau. Rửa, thái, nấu theo thứ tự.
Đồ để ở khu dùng tới nó. Nguyên tắc duy nhất.
Dao và thớt ở khu sơ chế. Không cất ở tủ xa.
Gia vị ở khu nấu. Với tay là tới.
Nồi chảo ở gần bếp. Treo hoặc để ngăn dưới.
Giẻ và nước rửa ở khu rửa. Hiển nhiên nhưng hay bị lẫn.
Rổ rá ở giữa khu rửa và khu sơ chế. Dùng cho cả hai.
Thùng rác ở gần khu sơ chế. Chỗ sinh nhiều rác nhất.
Giá úp bát ở khu rửa. Ngay cạnh bồn.
Không để đồ dùng hằng ngày ở ngăn cao. Phải trèo là bất tiện.
Chia ba khu rồi để đồ đúng khu là việc làm một lần trong một buổi, và nó tiết kiệm vài phút mỗi bữa suốt nhiều năm.
Khu sơ chế
Cần một khoảng trống đủ đặt thớt. Đây là yêu cầu tối thiểu.
Nếu không có chỗ thì dọn ra trước mỗi lần nấu. Bắt buộc.
Thớt đặt sát mép ngoài. Đứng thẳng lưng.
Dao treo trên tường hoặc để giá. Không để ngăn kéo chung.
Một tô lớn để đựng rác vỏ. Đổ một lần.
Một rổ để đựng đồ đã sơ chế. Hoặc mấy tô nhỏ.
Khăn lau treo gần. Sẽ dùng nhiều lần.
Đèn đủ sáng phía trên. Nhìn rõ thì ít đứt tay.
Không để đồ trang trí chiếm chỗ. Mặt bàn là để làm việc.
Không để máy móc ít dùng ở đây. Cất vào tủ.
Lau sạch sau mỗi công đoạn. Vướng là chậm.
Để sẵn muối và tiêu nếu hay ướp. Tiện tay.
Một cái khay để gom đồ đã cắt. Bê sang khu nấu một lần.
Khu sơ chế là nơi tốn nhiều thời gian nhất trong một bữa, nên nếu chỉ sắp lại được một khu thì hãy sắp lại khu này trước.
Khu nấu
Gia vị hay dùng để thành một hàng cạnh bếp. Dầu, muối, nước tương, tiêu.
Đũa cả và vá treo gần bếp. Không phải đi lấy.
Lót nồi để sẵn. Đặt nồi nóng xuống ngay.
Một cái đĩa hoặc khay để đựng đũa bẩn. Không đặt lên mặt bếp.
Không để giấy và giẻ gần lửa. Chuyện an toàn.
Không để chai nhựa gần bếp. Biến dạng và nguy hiểm.
Nắp vung to để sẵn khi chiên. Chữa cháy dầu.
Khăn khô để lau tay. Không dùng khăn ướt gần lửa.
Chừa một khoảng để đặt đĩa hứng. Trút món ra ngay.
Không xếp quá nhiều thứ quanh bếp. Vướng và dễ đổ.
Lau mặt bếp sau mỗi lần nấu. Dầu khô lại thì khó lau.
Quạt hút hoặc cửa sổ mở. Khói và mùi.
Bình chữa cháy trong tầm với. Và biết cách dùng.
Khu nấu cần ít đồ nhất trong ba khu vì nó là chỗ nóng và nguy hiểm nhất, nên nguyên tắc ở đây là chỉ để những gì thật sự dùng tới.
Khu rửa
Nước rửa chén và giẻ để cạnh bồn. Với tay là tới.
Giá úp bát ngay cạnh. Không phải bê đi xa.
Một chỗ treo giẻ cho khô. Không để nằm trong bồn.
Lưới chắn bồn để giữ vụn. Đổ sau mỗi lần rửa.
Thùng rác gần nhưng không sát bồn. Tránh nước bắn vào.
Một khoảng trống để xếp đồ bẩn. Trước khi rửa.
Khăn lau khô riêng. Không dùng chung với giẻ.
Găng tay nếu hay rửa nước nóng. Bảo vệ tay.
Không chất đồ bẩn ngập bồn. Không rửa được gì.
Không để bồn ướt đọng qua đêm. Lau khô sau khi rửa.
Cọ bồn thường xuyên. Ba mươi giây.
Kiểm ống thoát nước định kỳ. Tránh tắc.
Không đổ dầu xuống bồn. Tắc ống.
Một khu rửa gọn làm người ta chịu rửa ngay thay vì để dồn, và đó là ảnh hưởng lớn nhất mà cách sắp xếp có thể tạo ra.
Khi bếp chật
Ưu tiên một khoảng trống để thái. Dù nhỏ.
Dùng thớt lớn đặt lên bồn để tăng mặt bàn. Mẹo của bếp nhỏ.
Treo đồ lên tường thay vì để mặt bàn. Dao, muôi, rổ.
Dùng giá nhiều tầng. Tận dụng chiều cao.
Móc treo sau cánh tủ. Chỗ thường bỏ trống.
Chỉ giữ dụng cụ thật sự dùng. Bếp nhỏ không chứa được đồ thừa.
Cất đồ ít dùng ra ngoài bếp. Nồi lớn, khuôn bánh.
Dùng đồ chồng được lên nhau. Tô, hộp, nồi.
Nấu món ít nồi. Món một chảo, món một nồi.
Rửa ngay để lấy lại chỗ. Bếp nhỏ thì càng phải rửa liền.
Dọn bàn trước khi nấu. Bắt buộc với bếp chật.
Không mua thêm dụng cụ khi chưa bỏ bớt cái cũ. Nguyên tắc cho bếp nhỏ.
Không tích trữ nhiều thực phẩm. Không có chỗ.
Bếp nhỏ nấu được mọi món mà bếp lớn nấu được, chỉ là nó không tha thứ cho sự bừa bộn, nên người ở bếp nhỏ thường lại là người có thói quen dọn tốt nhất.
Bếp nhà thuê
Không sửa được thì sắp lại đồ. Phần lớn cải thiện đến từ đây.
Dùng giá rời thay vì đóng kệ. Mang đi được khi chuyển.
Dùng móc dán thay vì khoan tường. Không hỏng tường.
Mang theo dao và thớt của mình. Hai thứ đáng đầu tư.
Kiểm bếp gas và ổ điện khi mới dọn vào. Chuyện an toàn.
Báo chủ nhà nếu có gì hỏng. Đừng tự sửa điện gas.
Lót giấy hoặc tấm nhựa lên mặt bàn cũ. Dễ lau và giữ bàn.
Dùng thảm chống trượt nếu sàn trơn. An toàn.
Mua đèn rời nếu bếp tối. Rẻ và hiệu quả.
Sắm đồ gọn nhẹ, dễ mang đi. Sẽ còn chuyển nhà.
Không sắm đồ lớn khi còn thuê. Cân nhắc kỹ.
Giữ bếp sạch để lấy lại tiền cọc. Chuyện thực tế.
Chụp ảnh hiện trạng khi mới dọn vào. Phòng tranh chấp sau này.
Bếp nhà thuê cải thiện được nhiều hơn người ta nghĩ mà không cần sửa gì cả, vì phần lớn sự bất tiện đến từ cách để đồ chứ không từ cái bếp.